Nội dung đoạn văn
チョコレート会社の(注)陰謀かと思われるほど、2月14日のバレンタインデーには日本中でチョコレートがやり取りされる。この日が近づくたびにアメリカ人のシスターが日本のバレンタインデーは変だといつも憤慨していたのを思い出す。彼女にとってみんなに愛を示す聖なる日が、日本では女性から男性に愛を告白する日として広まったのが我慢ならなかったのだ。ところが、最近のバレンタインデーでは女性同士で贈り合う「友チョコ」が盛んだ。それでもまだ男子へのチョコレートのほうが多いと思いきや中学生や高校生では女性同士のチョコのほうが圧倒的に上回っているそうだ。それも手作りが主流だ。彼女が今の様子を知ったら何と思うだろうか。
Bản dịch tham khảo
Tiếng Việt
Đến mức tưởng như đó là “âm mưu” của các công ty sô-cô-la, vào ngày Valentine 14 tháng 2, sô-cô-la được trao tặng khắp Nhật Bản.
Mỗi khi ngày này đến gần, tôi lại nhớ một nữ tu người Mỹ luôn tức giận cho rằng Valentine ở Nhật thật kỳ lạ.
Đối với cô ấy, Valentine là một ngày thiêng liêng để bày tỏ tình yêu với mọi người, nên cô không thể chấp nhận việc ở Nhật ngày này lại phổ biến như dịp phụ nữ tỏ tình với đàn ông.
Tuy nhiên, Valentine gần đây lại thịnh hành “tomo-choco” — sô-cô-la bạn bè mà phụ nữ tặng cho nhau.
Cứ tưởng sô-cô-la tặng cho nam giới vẫn nhiều hơn, nhưng nghe nói ở học sinh cấp hai và cấp ba, sô-cô-la giữa các bạn nữ lại nhiều hơn áp đảo.
Hơn nữa, chủ yếu còn là sô-cô-la tự làm.
Nếu cô ấy biết tình hình hiện nay thì sẽ nghĩ gì nhỉ?
Chú thích: 陰謀 — âm thầm lên kế hoạch làm điều xấu; âm mưu.
Câu hỏi 1: Nếu viết tiếp phía sau bài văn một câu trả lời cho câu hỏi cuối cùng, phương án nào phù hợp nhất?
Câu hỏi trắc nghiệm (1)
Câu 1問1 本文の後ろに最後の疑問に対する答えを続けるとしたらどれがいいか。